Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2012

Lập Ban Hộ Niệm cũng phải tùy duyên


CƯ SĨ DIỆU ÂM
KHUYÊN NGƯỜI NIỆM PHẬT
.:: Thư trả lời Hộ Niệm ::.
***
Lập Ban Hộ Niệm cũng phải tùy duyên 
  Hỏi:
Cô muốn đưa pháp môn hộ niệm này vào 1 chùa ở gần quê cô. Để phối hợp cùng thực hiện, tránh sự để ý can thiệp của chính quyền, thì cô nên đặt vấn đề nói chuyện với quí thầy cô ở chùa như thế nào cho hợp lý?
Diệu Thiện.

Trả lời:
Mỗi chùa đều có đạo phong, đạo học riêng. Nói chung là có cách tu hành riêng. Cho nên, Cô cần cẩn thận trong lúc bàn thảo với các vị trụ trì ở đó mới được.
  Thời mạt pháp này niệm Phật là pháp tối thắng nhất để cứu chúng sanh thoát vòng sanh tử. Trong những năm qua, người niệm Phật vãng sanh đã hiển hiện rõ rệt, rất nhiều. Nhiều người đã nhìn thấy những cuộc vãng sanh đã ngộ ra đường giải thoát, đã phát tâm rất mạnh và quyết lòng thành lập những nhóm cộng tu, lập ban hộ niệm, lập niệm Phật đường để niệm Phật.
  Nói vậy, nhưng vẫn còn nhiều nơi không muốn thay đổi cách tu hành. Họ đã quen thuộc với cách tu hành có trước. Đây cũng là điều bình thường chứ không có gì lạ. 
  Được vãng sanh cần phải có đầy đủ phước đức thiện căn. Người có đủ phước đức thiện căn thì gặp cơ duyên này mới được cái phước phần vãng sanh Tây-phương Cực-Lạc để viên mãn thành tựu đạo quả. Thiếu phước đức và thiện căn thì đành phải chịu thua!
  Thiện căn là lòng tin, phước đức là phát tâm niệm Phật, nhân duyên là gặp được cơ hội này thì quyết lòng cầu vãng sanh Tịnh-độ.
  Chính vì thế mà mình làm Phật sự cũng phải tùy duyên, chứ không nên phan duyên.
  Nghĩa là, bàn bạc với các chùa thì Cô cứ bàn bạc, khuyên đại chúng niệm Phật thì Cô cứ khuyên, còn được hay không thì nên để tùy duyên của người. Xin Cô không buồn phiền khi khuyên người niệm Phật mà bị họ chống đối hay không theo.
Hầu hết các chùa chiền ở các nơi đã tu hành theo lệ cũ, quen thuộc rồi. Phật tử đã quen cách tu hành như vậy rồi, các Thầy dù muốn thay đổi, cũng khó khăn chuyển đổi lắm. Mình nên thông cảm vấn đề này.
  Cô nên gởi biếu, hoặc cúng dường cho họ những băng đĩa vãng sanh, lời pháp của Ngài Tịnh Không, những tin tức về hộ-niệm vãng-sanh, và đề nghị với quí Thầy/Cô về việc hộ-niệm, chuyên tu Tịnh nghiệp, một lòng niệm Phật cầu sanh Tịnh-độ, nếu được thì tốt, không được thì mình phải lo số phận của mình là chính vậy.
  Trong những năm qua Diệu Âm đều cố gắng làm việc này. Trong đó, hầu hết các Niệm Phật Đường của cư sĩ tu tại gia lập nên, tu niệm Phật, tự hộ-niệm cho nhau đều đã có sự thành tựu rất lớn, cứu độ được nhiều người vãng sanh.
 
Hỏi:
Ở Hà nội, theo Cô được biết chưa có 1 ban hộ niệm nào cả, Cô rất muốn thành lập, nếu Diệu Âm có nhóm liên hữu đồng tu nào có quan hệ thân thiết với Hà-Nội, có thể gầy dựng cơ sở được, thì cho Cô biết với.
Diệu Thiện.
  Trả lời:
Thực ra ở Hà-Nội đã có ban-hộ niệm chứ không phải không có. Năm 2007 có vài vị ở Hà-Nội vào TpHCM gặp Diệu Âm và sau đó về Hà-Nội lập ban-hộ-niệm, đáng tiếc là hiện giờ Diệu Âm không liên lạc được để biết rõ địa chỉ cũng như điện thoại của họ. Diệu Âm sẽ cố gắng tìm cách nối lại liên lạc rồi cho cô hay sau.
  Ban-hộ-niệm lập ở VN đến nay nhiều lắm, rải rác khắp nơi, nhiều khi ngay trong một tỉnh có đến hàng chục ban-hộ-niệm, không cách nào liên lạc cho đầy đủ được.
  Chị Thu-Hương, ban-hộ-niệm Hoa sen ở Đà-Nẳng rất tốt, thẳng thắn, phát tâm mạnh, Cô nên liên lạc với chị Thu Hương để nhờ giúp đỡ về cách thức hộ-niệm và thành lập Ban-hộ-niệm.
  Về mặt chính quyền, thì ở đâu mình phải theo luật lệ ở đó. Căn bản là mình không được làm điều gì phạm đến quy định của nhà nước, không được xen vào các việc khác. Làm đạo thì ta cứ lo việc đạo, quyết lòng theo giáo pháp của Phật để cứu độ chúng sanh mới tốt.
  Nên tế nhị trong việc tiếp xự, thành khẩn xin họ chấp nhận cho bà con xóm làng, những người già cả, tụ tập lại thành nhóm nhỏ để cùng nhau niệm Phật, nếu có ai bị bệnh nặng thì xin họ cho phép Ban Hộ Niệm tới niệm Phật hộ niệm. Chỉ vậy mà thôi.
 
3. Về việc về VN.
Thực sự Diệu Âm cũng muốn về VN lắm, nhiều đồng tu cũng như các nhóm Hộ Niệm luôn luôn nhắc nhở điều này.
Diệu Âm cũng đang suy nghĩ, nhưng tình thực mà nói, khả năng đi lại của Diệu Âm thực sự rất có hạn, thật là "lực bất tòng tâm".
  Hơn nữa, ở tại Brisbane này, Diệu Âm đang cố gắng xây dựng một Niệm Phật Đường cho người Việt Nam tu học, vì hiện tại ở đây chưa có một đạo tràng nào dành cho người Việt Nam, thấy vậy mà tội nghiệp cho người Việt Nam chúng ta. Niệm Phật Đường của Tịnh Tông thì niệm bằng tiếng Hoa, nhiều người không niệm được.
  Nếu Diệu Âm không đứng ra xây dựng thì không biết chừng nào mới có một Niệm Phật Đường cho người Việt Nam niệm Phật. Chính vì vậy mà Diệu Âm làm liều! Làm liều thì vay nợ cao, vay nợ cao thì phải vất vả, muốn đi đây đi đó giúp người niệm Phật nhưng đành phải cắt giảm tối đa, nhất là về Việt Nam(!), chứ không biết cách nào khác hơn! Xin thành thực khai báo, chứ không có ý gì khác. Chính vì thế mà khi nghe Cô đề nghị về Việt Nam, Diệu Âm cứ chần chừ không dám trả lời thư Cô là vậy.
  Cho nên việc về Việt Nam, để Diệu Âm sắp xếp lại một chút, sẽ trả lời rõ hơn với Cô sau.
 
4. Trả lời cho Kiều Thanh:
Kiều Thanh muốn có pháp danh Diệu Âm thì tốt lắm chứ có gì đâu mà ngại ngùng. Khi thọ tam quy với vị Thầy, hãy nói thẳng với Thầy ý muốn của mình, xin Thầy hoan hỉ cho. Thế thôi.
Rất khen Kiều Thanh có tâm hướng Phật tốt như vậy.
  Cố gắng niệm A Di Đà Phật, thành tâm niệm A Di Đà Phật, một lòng niệm A Di Đà Phật cầu hết báo thân này vãng sanh thì thành tựu ngay trong một đời này. Phải vững lòng tin vào lời Phật dạy nhé.
  A-di-đà Phật
Diệu Âm
(15/10/2008)

Cơ hội được vãng sanh?


CƯ SĨ DIỆU ÂM
KHUYÊN NGƯỜI NIỆM PHẬT
.:: Thư trả lời Hộ Niệm ::.
***
Cơ hội được vãng sanh?
Hỏi:
Người được hộ niệm NGŨ CĂN bị KHIẾM KHUYẾT (mắt mờ hay căm hoặc điếc v.v..). Có cơ hội vãng sanh không?
 Trả lời:
Người nào cũng có khả năng vãng sanh, nhưng khó hay dễ thì chắc chắn phải có. Người ngũ căn khiếm khuyết thật sự phải khó khăn hơn người bình thường. Trong kinh Duy Ma Cật có nói đến chuyện này. Ví dụ, người câm điếc làm sao họ nghe lời khai thị, khi gặp trở ngại mình khuyên họ buông xả làm sao họ biết để buông xả, khi mình niệm Phật làm sao họ nghe theo để niệm Phật được, khi oan gia trái chủ tấn công làm sao họ báo cho mình biết sự cố bất tường đó, v.v....
 Trong kinh Phật có kể ra những trường hợp khó được Vãng sanh như: người câm, điếc, mù, bị loạn thần kinh, bị cọp chụp, té cây v.v.. nói chung những trường hợp này rất khó được vãng sanh.
 Có những trường hợp có thể giải quyết được, như người già, lớn tuổi, tai bị lỉnh lảng, điếc thì nên mua dụng cụ trợ thính, máy nghe, nhét vào lỗ tai thì có thể nghe được. Người già mắt bị mờ, nhưng nhờ lúc còn sáng có tu hành, từng nhìn thấy được hình Phật, khi sắp lâm chung còn nhớ được hình Phật để quán tưởng tới v.v...
 Khi tắt hơi xong, thần thức chuyển qua thân trung ấm, có thể thấy được, nghe được, nhưng sự chuyển tâm niệm Phật cũng là vấn đề khó khăn cho họ. Tập khí khác chi phối, nghiệp chướng hiện hành, oán thân dụ hoặc, cũng thật sự khó khăn cho họ để thức tỉnh, hiểu đạo...
 Nói như vậy nhưng chắc chắn vẫn có những trường hợp đặc biệt. Điều này ngoài dự liệu thông thường, khó quyết đoán được!
 
Hỏi:
Khi đến nhà của người được hộ niệm. Có để bàn thờ thần tài và ông địa hay thờ một số vị thần khác rất trang nghiêm, trường hợp này phải xử lý như thế nào? (Người được hộ niệm nằm ngay trong phạm vi này)
Trả lời:
Nếu thật sự gia đình thành tâm tin tưởng Phật, tha thiết muốn người thân được vãng sanh thì ngại ngùng gì mà không nói thẳng với họ về cách trưng bày trong phòng hộ niệm.
 Thờ "Ông Địa" và "Ông Thần Tài" thì thường để dưới đất, trong một góc nhà, chỉ cần lấy tấm vãi, hoặc một vật gì lớn ngăn che lại là được. Không có gì trở ngại lắm.
 Những tượng Thần Tiên ở trên bàn thờ trang nghiêm, thì có thể ảnh hưởng đến tâm hồn người muốn vãng sanh. Tốt nhất nên né tránh.
 Hãy giải thích cho họ rõ ràng là chỉ nên treo tôn tượng A-di-đà Phật là tốt nhất. Nếu họ cảm thấy khó khăn phải hạ những tượng khác xuống, thì đề nghị với họ nên dùng căn phòng khác để hộ niệm.
 Hơn nữa, lòng tín ngưỡng của người bệnh dẫu sao cũng ăn sâu vào các hình tượng đã thờ lâu nay, nếu lâm chung còn tưởng đến đó nữa thì rất khó định tâm, rất khó xoay chuyển tâm ý. Người bệnh nhìn thấy các tượng Thần Tiên, có thể họ lo sợ rằng lâu nay mình thờ các Ngài đó, nay lại niệm Phật A-di-đà mà không niệm các vị Thần Tiên thì các vị Thần Tiên sẽ buồn, sẽ quở phạt, họ e ngại, sợ có lỗi v.v.. Chính vì vậy rất dễ phân tâm, khó nhiếp tâm câu Phật hiệu, hình tượng Phật A-di-đà khó đi sâu vào tâm người bệnh. Nói chung rất khó tạo tâm chân thành, thành kính niệm Phật, thành ra rất khó tương ưng.
 Đôi khi, dù cho họ có hiểu chút ít đạo lý vãng sanh, nhưng họ vẫn e ngại đủ điều. Đây là tập khí khó bỏ lắm. Tốt nhất là chuyển đến phòng khác để họ tạm thời đừng nhìn vào đó nữa.
 Trong phòng hộ niệm nên thoáng một chút, sạch sẽ gọn gàng một chút, những hình ảnh chụp gia đình, vợ chồng, con cái, hình bông hoa, phong cảnh nên tạm thời hạ xuống. TV cassette, radio, v.v.. nên tắt đi. Nên tránh sự thăm lom của bà con, người thân, đừng để những người không hiểu đạo đến hỏi thăm bệnh tình, chúc phúc chúc lành bệnh, cầu mau bình phục v.v.. không tốt.
 Nhắc nhở người nhà đừng nói chuyện lớn tiếng, đừng vội vã bàn đến chuyện chôn cất, thiêu đốt, hậu sự v.v.. hoặc tỏ ra u sầu, buồn bã, than thở... những điều này dễ động tâm người đang nhiếp tâm niệm Phật cầu vãng sanh. Đừng để những tiếng ồn ào làm ảnh hưởng đến người bệnh.
 Nếu đã tu xen tạp, suốt đời nhắm tới các đạo quỉ thần, đến lúc lâm chung mà còn vướng bận vào đó, không tin tưởng Phật pháp, người nhà chỉ mời chúng ta đến đóng góp thêm chút ít hình thức nào đó, rồi xen tạp các thứ khác thì chúng ta nên từ chối thẳng, đừng nên tham gia, vì vô ích, không giúp được gì mà đôi khi còn bị trở ngại cho người ra đi.
 
A-di-đà Phật
Diệu Âm
(07/10/2008)
 

Những sơ xuất thông thường khi Hộ Niệm


CƯ SĨ DIỆU ÂM
KHUYÊN NGƯỜI NIỆM PHẬT
.:: Thư trả lời Hộ Niệm ::.
***
Những sơ xuất thông thường khi Hộ Niệm

Hỏi
Sau khi Hộ Niệm 8 giờ. Ban Hộ Niệm có cần thiết thăm hơi nóng người được Hộ Niệm ở đâu không? (Để có thể xử lý mọi trường hợp xấu kịp thời hay là tùy duyên )
Trả lời:
Nên làm. Hãy cẩn thận và thành kính làm việc này. Không nên làm với tâm hiếu kỳ, nhưng thành khẩn làm vì để coi người đi có bị chướng ngại nào không, nếu bị chướng ngại thì xử lý kịp thời, nghĩa là bảo với gia đình và Ban Hộ Niệm nên thành khẩn hộ niệm thêm cho người ra đi. Nếu được đồng thuận thì tốt, không đồng thuận thì cũng đành tùy duyên thôi.
Có nhiều người thăm thân xác quá lâu, quá nhiều làm cho chúng ta tưởng tượng rằng họ bắt cái xác chết tập thể dục.
Làm như vậy có vẻ bất kính, nên tránh. Có người, vì muốn biểu diễn sự mềm mại, cầm tay lắc qua lắc lại, ẵm lên rồi thả mạnh xuống giường, để chứng tỏ cho mọi người thấy điều "Bất khả tư nghị" của người chết. Đây là điều bất kính, hãy tránh. 

Hỏi:
Như anh Diệu Âm hướng dẫn. Sau thời gian  Hộ Niệm, người được Hộ Niệm chỉ còn hơi nóng ở một điểm hoặc khi nào toàn thân lạnh hết mới được. Vậy một trường hợp được Hộ Niệm 14 giờ, người được Hộ Niệm ngoài các điều kiện cần thiết và thoại tướng tốt đầy đủ. Toàn thân người được Hộ Niệm đều lạnh hết thì trường hợp này như thế nào? (có  được Vãng Sanh không?). Cũng không nóng ở đỉnh đầu.
Trả lời:
Hơi nóng có nghĩa là hơi ấm, hoặc ít lạnh hơn các nơi khác, chứ không phải nóng "như cái máy sấy tóc" như có người đã diễn tả đâu. Một người được hộ niệm 14 giờ sau khi tắt thở, có thể còn hơi ấm ở đỉnh đầu. Tuy nhiên, nhiều khi trong suốt thời gian hộ niệm, căn phòng mở máy lạnh thường xuyên, hoặc khi trời lạnh quá cũng có thể rất khó phân biệt. Cho nên, nếu ấm ở đỉnh đầu là cách xác định tốt hơn, mạnh hơn, yên tâm hơn, chứ không phải luôn luôn như vậy. Ví dụ, có người lúc chết chưa được vãng sanh, nhờ hộ niệm mà mấy ngày sau mới được vãng sanh thì làm sao còn hơi nóng? Cuộc vãng sanh của Sư Cô Thích Pháp Giác ở tỉnh Sơn Tây Trung Quốc là một ví dụ cụ thể.
Cho nên, yếu tố vãng sanh vẫn phải căn cứ theo ba tư lương là TÍN-NGUYỆN-HẠNH. Người có lòng tin, tha thiết cầu vãng sanh, quyết lòng niệm Phật, trước khi chết được người hộ niệm khuyên nhắc cẩn thận, bảo vệ an toàn, không bị con cháu trong nhà ngăn cản, phá hoại, khi ra đi được thoại tướng tốt đẹp cũng có thể xác định được vãng sanh. Nếu có thêm thoại tướng ấm ở đỉnh đầu thì thêm yếu tố chắc chắn, giúp cho mọi người an tâm hơn, thế thôi.
Nói chung, càng có nhiều thoại tướng tốt, càng vững tâm. Càng nhiều sự cản phá càng khó khăn cho người ra đi. Người Hộ Niệm chúng ta cứ thành tâm cứu độ chúng sanh, cố gắng giảm thiểu mọi rủi ro cho họ, mong cho người ra đi được hoàn mãn, là được. Còn mọi chuyện đều tùy duyên.

Hỏi:
Người được Hộ Niệm là một em bé hơn 10 tuổi bị bệnh Ung Thư chờ chết. Em chịu niệm Phật và phát nguyện Vãng Sanh nhưng lại đòi mua đồ chơi theo anh trường hợp này nên xử lý như thế nào? 
Trả lời:
Hộ niệm cho một người, luôn luôn tìm cách thỏa mãn những yêu cầu của họ. Một đứa bé 10 tuổi thích đồ chơi là chuyện bình thường, trước lúc chết các em còn thích được chìu chuộng, thích người chăm lo, thích người thương yêu bảo vệ... tất cả đều là chuyện bình thường. Người lớn mà đôi khi còn thích như vậy, huống chi là trẻ em.
Cho nên, hãy mua đồ chơi cho nó và nói rằng về Tây Phương muốn có đồ chơi gì thì có liền, không cần đi tìm mua như ở đây. Thần thông đạo lực ở Tây Phương vi diệu, bay lượn khắp không trung, muốn ăn có ăn, muốn mặc có mặc, muốn cái nhà bay lên không thì cái nhà bay lên không... muốn cái gì được cái đó. Còn ở đây, mấy thứ  đồ chơi này họ làm để chơi tạm vài bữa thì hư, đâu có gì là hay... Lợi dụng sở thích của em mà khuyến tấn thêm, chứ không phải ngăn các em nhé. Đây không phải là chấp trước, mà lợi dụng sở thích để hướng dẫn, khuyến khích.
Một em bé mà biết niệm Phật, biết cầu vãng sanh thật sự là tốt lắm rồi. Hãy tận dụng tâm lý để thuyết phục và uyển chuyển khuyên nhắc mới thành công được.
Hỏi:
Khi Hộ Niệm người khai thị có cần thiết ngồi khai thị liên tục (ngồi gần nói nhỏ và các thành viên vẫn niệm Phật) hay chỉ khai thị như anh hướng dẫn trong các đĩa Hộ Niệm cho cô Kim Phượng, Cụ Hồ Thị Lan v.v..?
Trả lời: Câu hỏi này hay lắm!
Nhiều Ban Hộ Niệm, Diệu Âm thấy người khai thị nói liên tục bên tai người bệnh. Đây là điều không tốt, dễ làm người bệnh loạn tâm, tức bực, hoặc khó chịu. Có nhiều khi vì mình nói hoài, bắt họ phải chú tâm nghe hoài, làm họ bực mình, tự ái, phiền não... mà không muốn mình Hộ Niệm nữa đó.
Khoảng 1 giờ hoặc 30 phút nhắc nhở một lần là đủ rồi. Nếu người có tín tâm vững, có phát nguyện tha thiết, thường ngày biết niệm Phật tu hành nhiều v.v.. thì nhiều khi khỏi cần khai thị nữa. Xin mọi người hãy nhiếp tâm niệm Phật để người bệnh cũng nhiếp tâm niệm theo thì tốt hơn.
Cụ Hồ Thị Lan, khi Diệu Âm tới thì cụ đã bị mê man nằm im thiêm thiếp. Hỏi gia đình thì biết Cụ không niệm Phật tốt mấy, con cháu trong nhà chưa vững lắm về pháp Phật... chính vì vậy mà Diệu Âm khuyên giải khá nhiều trong những ca Diệu Âm đến HN, nhưng ít ra cũng 30 phút mới nói một lời ngắn. Coi trong video thấy khai thị nhiều là do hộ niệm nhiều lần, và người quay phim quay nhập lại, không có chia ra mà thôi.
Sau khi cụ tắt hơi, thấy thoại tướng không được tốt, nên trong 4 giờ đầu Diệu Âm nói thêm. Khi thấy tướng đã chuyển đổi thì Diệu Âm an lòng ra về... Trước khi ra về có dặn mấy đồng tu tiếp tục niệm Phật là đủ, không cần nói thêm gì nữa.
Riêng Cô KIM PHƯỢNG, như mọi người đều biết, cô bị chướng nạn rất nặng nên Diệu Âm phải cố gắng hết sức để điều giải oan gia trái chủ, (chắc Văn Tập đã biết chứ?). Diễn giải xong việc oan gia nhập thân thì cô mới ra đi được.  Khi cô ra đi rồi, trong vòng 2 giờ đầu, vẫn cần sự hướng dẫn để ngừa các chướng nạn vẫn đeo theo cô. Đây là điều tốt. Đến khi thấy rõ sự chuyển tướng khá rõ rệt, đây là điều cảm ứng tốt, nên Diệu Âm an tâm ra về.
- Có nhiều cuộc hộ niệm, người khai thị nói nhanh quá, nói cứng quá, nói cao ngạo quá, hoặc sơ ý không giữ sự thành kính với Tam Bảo, hoặc nói quá cứng khi hóa giải oan gia trái chủ... đây cũng là điều không tốt lắm, cần nên chú ý sửa chữa lại.
- Có nhiều khi người Hộ Niệm nhắc nhở mà có tính cách bắt buộc người bệnh phải niệm theo, cứ lắc đầu người bệnh, bắt họ phải mở miệng niệm theo, ép buộc họ phải mở mắt ra nhìn tượng Phật... đây cũng là điều không tốt. Nếu thấy người bệnh cứ ngủ hoài, thì lâu lâu cũng nên nhắc nhở họ cố gắng vùng lên kiên cường niệm Phật, vui vẻ khích tấn là điều tốt. Tuy nhiên, nhiều khi người bệnh quá mệt mỏi thì cũng phải cho họ nghỉ một chút, hoặc khuyên họ thầm niệm theo. Chú ý giúp họ giữ vững ý nguyện niệm Phật, chứ không thể bắt buộc họ được.
- Nhiều người hướng dẫn người bệnh mà cứ hỏi nhiều quá, bắt bệnh nhân phải trả lời liên tục, cũng không tốt! Hãy nên nói ngắn, vui vẻ một vài phút là đủ, rồi niệm Phật là được. Hỏi người bệnh nhiều quá làm họ dễ loạn tâm.
- Khi hướng dẫn, khai thị, không nên mở ra những vấn đề lạ, hoặc hỏi những câu hỏi làm cho bệnh nhân khó trả lời. Nếu lỡ mở ra một câu hỏi nào, người bệnh chưa kịp trả lời hoặc suy nghĩ, thì chính người khai thị phải nhanh chóng trả lời giùm cho người bệnh liền, đừng để họ suy nghĩ hoặc phiền não. Ví dụ: mình lỡ hỏi:
Cụ muốn nằm đây hay muốn về Tây Phương? Gặp người vui vẻ thì họ trả lời được, có người họ cảm thấy khó chịu vì họ nghĩ rằng mình khinh thường họ. Thấy vậy, đã lỡ hỏi, thì phải nhanh chóng tự giải quyết liền:
Ở đây khổ quá Cụ à, đau đớn, nhức mỏi, hãy mau về Tây phương với A-Di-Đà Phật hưởng tận sự sung sướng, thành Bồ-tát, thành Phật nghen, v.v.. v.v..
- Tập nói cho thật tự nhiên, cũng đừng quá vội, quá nhanh, cũng đừng quá nhựa nhựa, quá chậm. Nói tự nhiên và không làm quá vẻ nghiêm trang, căng thẳng. Hay vui vẻ, tự nhiên, thản nhiên, đầy đủ sự khuyến tấn, khích lệ... Những khả năng này sẽ phát triển dần theo kinh nghiệm. Thông thường những lần hộ niệm đầu nói hay bị vấp víu, nhưng không sao đâu, từ từ sẽ tốt dần...
A-di-đà Phật
Diệu Âm
(29/09/2008)

Người khai thị, thoại tướng

CƯ SĨ DIỆU ÂM
KHUYÊN NGƯỜI NIỆM PHẬT
.:: Thư trả lời Hộ Niệm ::.
***
Người khai thị, thoại tướng
Hỏi:
Khi đi hộ niệm, không đủ người phải nhờ sự hỗ trợ của các nhóm HN khác.  Như thế cần giữ nguyên người khai thị lúc đầu không? nếu như nhiều người khai thị của nhiều nhóm ảnh hưởng đến người được HN không?
Trả lời:
Trong một buổi HN, không nên thay đổi quá nhiều người khai thị, đây điều tốt, tránh tình trạng ồn àolàm người bệnh phân tâm nhất tránh những người hiếu kỳ, không hiểu cách khai thị phát biểu bậy bạ, nói những lời không thích hợp. Người chưa kinh nghiệm khai thị nếu ý nói một lời không thích hợp, hay sai pháp làm thay đổi ý nguyện của người bệnh. Rất khó chuyển đổi tâm ý người bệnh về sauchứ không nghĩa khác.
Nhiều nhóm Hộ Niệm cùng Niệm Phật, thì Diệu Âm nghĩ rằng những người trong  nhóm đã kinh nghiệm khai thị, biết cách hướng dẫn rồi, vậy thì không cần áp dụng cứng ngắt, hay phân chủ hay khách đâu. Uyển chuyển tốt, bàn bạc với nhau tốt, chứ còn phân chia cứng ngắt thường gây xáo trộn... không tốt.
Cho nên, không cần phải giữ nguyên một người khai thị lúc đầu.
Hỏi:
Sau khi HN được 8 giờ. Người được HN hai trường hợp
1-Nóng ở bụng nhiều đầu không nóng nhưng không lạnh như những chỗ khác.
2-Nóng ở ngực nhiều đầu không nóng nhưng không lạnh như những chỗ khác.
Như thế thần thức của hai người này đã ra khỏi thân chưa? Trường hợp này xử như thế nào? Nếu gia đình không bằng lòng cho niệm tiếp.
Trả lời:
Sau 8 giờ chỉ thể còn hơi ấmmột điểm. Nếu còn ấm tại 2,3 điểm thì nên cẩn thận niệm thêm 1 số giờ nữa cho thực sự chính xác một điểm ấm hoặc khi nào toàn thân lạnh hết mới được. Khi thân xác còn ấm nhiều chổ thì coi chừng thần thức chưa thực sự ra khỏi thân thể, không được tẩn liệm xác. 
1) Nóngvùng bụng, đây điềm xấu, bị đọa ngạ quỷkhông tốt. Nên thành tâm cầu Phật gia trì, gia đình nên lạy Phật cầu gia hộ, BHN nên phát tâm niệm thêm 4-8 giờ nữa. Khai thị rất cần trong trường hợp này, cầu giải oan gia trái chủ. Hãy làm hết sức, còn kết quả ra sao thì tùy theo phước phần của người ra đi.
2) Nóngngực nhiều thể được sanh lại làm người. Trong trường hợp này thân xác cũng thể được mềm mại, nhưng không viên mãn. Nhưng nếu thành tâm, Ban Hộ Niệm thể tiếp tục khai thị, hướng dẫn cho thần thức buông xả việc lưu luyến con cháu, mau mau thức tỉnh niệm Phậtcầu xin A-di-đà Phật phóng quang tiếp độ. Nên niệm thêm 4-8 giờ nữa, thể giúp thần thức tỉnh ngộ Vãng Sanh Cực Lạc. Lúc đó điểm nóng sẽ chuyển lên đỉnh đầu.
Trong những trường hợp này, bắt buộc gia đình phải thành tâm cầu nguyện, thành tâm hợp tác tối đa với Ban Hộ Niệm để cứu người thân của họ. Nếu người thân không bằng lòng thì Ban Hộ Niệm đành phải đình chỉ ra về. Tất cả đều tùy duyên phận, chứ không biết cách nào khác hơn.
Hỏi:
Khi gặp những trường hợp khó. Cần khai thị   cầu xin oan gia. Nhưng khi cầu xin oan gia  người khai thị thể nói MẠNH ( tính chất dọa) hay chỉ một mực NĂN NỈ như anh đã hướng dẫn trong buổi nói chuyệnNiệm Phật Đường Tịnh Nghiêm?
Trả lời:
Nói mạnh, nghĩa nói giúp cho thần thức giựt mình tỉnh ngộkhông nên nói quá nhỏ nhẹ như ru ngủ làm cho thần thức cứ tỉnh tỉnh trong trạng thái chơi vơi. lúc đó thần thức thể chưa biết mình đã chết, đang phân vân trong cảnh giới nửa thực, nửa giả, đang màng màng không biết làm sao. Lúc đó ta nói lớn tiếng một chút làm họ giựt mình tỉnh ngộ ra mau mau Niệm Phật cầu Vãng Sanh. (Nếu Văn Tập cuốn Video cụ Hồ Thị Lan, nên xem lại cuốn đó, khi Diệu Âm thấy khuôn mặt cụ vẫn chưa tốt sau mấy tiếng đồng hồ, nên Diệu Âm nói rất mạnh để mong cụ giựt mình quyết tâm niệm Phật. Nên xem lại cuộc Vãng Sanh này để thêm).
Nói mạnh nói dứt khóat, chứ không phải dọacống cao hay thách thức. Xem lại cuốn Video của Trần Thị Kim Phượng (nếu Diệu Âm nói rất mạnh, rất cương quyết, nhưng không lời nào thách thức hay dọa đâu.
Nên thành tâm khẩn cầu oan gia trái chủ xóa bỏ hận thù, cùng nhau niệm Phật, một lợi cho người bệnh, hai lợi cho chính họ. Trong cuộc Vãng Sanh của Trần Thị Kim PhượngDiệu Âm áp dụng rất nhiều cách điều giải, rất cương quyết, nhiều khi phải luận với oan gia nữa, nhưng tuyệt đối không chống đối hay thách thức.
Nếu oan gia quyết lòng báo thù thì mình không còn cách nào khác. Người Hộ Niệm tuyệt đối không dùng bùa, ngải, hay cầu các vị thầy Pháp tới trục xuất, hay đánh phá oan gia. Nhất định nhớ điều này.
A-Di-Ðà Phật
Diệu Âm
(25/09/2008)

Niệm Phật vãng sanh lưu xá lợi ở Úc Châu

PDF In E-mail
Đăng bởi Tuệ Minh   
Cụ bà Diệu HỷĐược sự đồng ý của nhà thiêu Altona, con cháu của cụ và Đại Đức Thích Trúc Thông Hoàng đến nhà thiêu lúc 3g30 chiều cùng ngày 13-8-2001. Trong hộp tro cốt, Đại Đức Thích Trúc Thông Hoàng và con cháu cụ Diệu Hỷ, đã tìm thấy hơn trăm mảnh xá lợi đủ 5 màu sắc: đen, đỏ, vàng, xanh, trắng. Đa số các mảnh kết thành Hoa xá lợi, có hình như hoa cúc.
Cụ bà Quách Thị  Huế, sanh ngày 15-1-1921 tại Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Việt Nam. Bà là chị thứ tư trong gia đình cùng với 3 người em trai, hai người em đã quá vãng, hiện còn một người em trai là Quách Văn Bội, đang cư ngụ tại Melbourne, Australia .
Bà lập gia đình với ông Lê Đăng Vinh (1917- 1970) nguyên quán làng Gia Lộc, huyện Trãng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Ông Vinh, người trong Gia tộc vẫn gọi là ông Ba Ngộ, là con dòng thứ của một đại Hương Cả làng Gia Lộc thuộc Tổng Hàm Ninh Hạ, huyện Trãng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Khi còn trai trẻ, ông Ba Ngộ không ham học chữ nghĩa, chỉ say mê võ nghệ và bùa chú. Khi lập gia đình với bà Huế, sanh được một người con trai, ông Ba Ngộ bỏ gia đình, vợ con lên vùng núi Thất Sơn (Châu Đốc ) và dãy núi Tà Lơn (Cao Miên) để tầm Thầy học võ và bùa chú. Trên đường tầm Thầy học võ và bùa chú, ông Ba Ngộ lần hồi qua đến Nam Vang, xứ Cao Miên thì gặp được kỳ ngộ.  Ông đã gặp được Sư  Hộ Tông, gặp được chánh  pháp của Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Ông Ba Ngộ bèn rũ bỏ tất cả võ nghệ và bùa chú, quy y Tam Bảo là Phật- Pháp - Tăng, và xuất gia theo hệ phái Phật giáo nguyên thủy Cao Miên Theravada. Đường tu học đưa dẫn ông lần sang Lào và Xiêm La. Năm 1945, nghe mẹ già và vợ con đang kẹt trong lằn chiến tranh ác liệt ở Việt Nam, ông Ba Ngộ xin Thầy cho phép hoàn tục và lập tức trở về Việt Nam đưa mẹ và vợ con đi lánh nạn chiến tranh (thời đó gọi là đi tản cư).
Ông Ba Ngộ là người con chí hiếu  và lòng tín tâm vào ngôi Tam Bảo thật là sâu xa; nên ông đã lần hồi dắt dẫn vợ và mười một người con vào đường chánh pháp. Bà Quách Thị Huế có mười một người con với ông Ba Ngộ; gồm 7 trai và 4 gái. Người con trai thứ 3 của bà đã tử nạn trong chiến tranh năm 1968 tại Việt Nam.
Năm 1960, do sự dẫn dắt của chồng, bà Quách Thị Huế đã quy y Tam Bảo và thọ ngũ giới tại chùa Pháp Quang (đường Nguyễn văn Học , Gia Định) được Sư  Hộ Tông và Sư Thiện Luật (Giáo hội Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam) đặt pháp danh là Diệu Hỷ. Cũng năm 1960 ông Ba Ngộ đem hai đứa con trai thứ 5 và thứ 6 ký gởi ở chùa Pháp Quang, làm nghĩa tử của Đại Đức Hộ Giác, giám đốc Phật học viện Pháp Quang thuộc hệ phái Phật Giáo  nguyên thủy Việt Nam Theravada. Người con trai thứ 5 của cụ Diệu Hỷ đã xuất gia năm 1964, thuộc hệ phái Phật Giáo nguyên thủy VN và theo học trường Cao Đẳng Phật Học Vạn Hạnh . Năm 1970, ông Ba Ngộ đột ngột qua đời lúc ông mới 53 tuổi. Cụ Diệu Hỷ chọn con đường ở vậy nuôi con. Thật là một "gánh nặng trần ai" nặng nề quằn quại trên đôi vai yếu ớt của bà mẹ Việt Nam. Năm 1972, cụ Diệu Hỷ rời bỏ quê hương Trãng Bàng, đến xứ Cần Thơ sinh sống. Năm 1975, cụ Diệu Hỷ lại rời Cần -Thơ về sinh sống tại tỉnh Vĩnh Long. Tại nơi đây, cụ Diệu Hỷ đã trở thành người hộ Phật, hộ Pháp, hộ Tăng đầy tín tâm của chùa Siêu Lý  (thuộc thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long).
Năm 1990, cụ Diêu Hỷ di dân đến Melbourne, Úc Châu để đoàn tụ với 4 người con trai và 3 con gái đang sinh sống tại đây. Từ đó, cụ Diệu Hỷ là đệ tử tín tâm của nhiều ngôi Tam Bảo ở vùng Melbourne, Sydney, Việt Nam và Ấn Độ.
Cụ Diệu Hỷ là Liên Hữu của Đạo tràng Cực Lạc Liên Hữu, thuộc chùa Quang Minh, do Đại Đức Thích Phước Tấn chủ trì. Do có nhiều thiện duyên người con rể thứ 9 của cụ Diêu Hỷ đã xuất gia vào năm 1996. Cụ Diệu Hỷ không phải làngười có học vấn  cao rộng, cũng không phải là người có kiến thức uyên bác về giáo lý, kinh điển của Phật Giáo. Cụ Diệu Hỷ thọ Tam quy và Ngũ giới một cách nghiêm cẩn. Mỗi tháng cụ thọ Bát Quan Trai Giới 4 ngày. Sau khi mổ sạn mật , do lời khuyên của bác sĩ, cụ không còn thọ Bát Quan Trai Giới nữa, nhưng tâm rất luyến tiếc công phu nhiều năm phải bỏ dở.
Theo những người con, thì cụ Diệu Hỷ là người có tâm cố chấp; khi buồn, giận thì buồn giận rất lâu, không xả bỏ được. Cụ Diệu Hỷ cũng biết  rõ tâm cố chấp này của mình, nhưng dù cố gắng tu tập nhiều năm vẫn chưa đoạn trừ được. Theo như nhận xét của nhiều người thân, thì vào những tháng cuối cùng của cuộc đời, cụ Diệu Hỷ đã từng bước đoạn trừ được kiến chấp, lòng sân hận và tỏ rõ quyết tâm sẳn sàng từ bỏ thân ngũ trược này.
Năm 1995, người con trai thứ 5 của cụ Diệu Hỷ từ Hoa Kỳ đến Úc châu thăm cụ và để lại cho cụ một  "nghi tình" lớn: "PHIỀN NÃO LÀ NIẾT BÀN". Từ đó, trong nhiều năm liền, tâm của cụ Diệu Hỷ không thoát ra khỏi  "nghi tình" này.  Gặp ai cụ cũng đặt ra câu hỏi: "Vì sao phiền não là Niết Bàn?? "
Từ năm 2000, cụ Diệu Hỷ thường nói với con cháu "Mẹ rất chán ngán cõi ngũ trược luân hồi này, một khi đã ra đi, mẹ không muốn trở lại cõi này nữa…". Thấy nhân duyên đã đến, người con trai thứ 10 của cụ Diệu Hỷ khuyên cụ: "Chỉ có con đường Tịnh Độ, nhất tâm niệm Hồng Danh Đức A Di Đà mới có thể vãng sanh về Cực Lạc Tây Phương, Tịnh thổ của Đức A Di Đà Phật được". Cụ Diệu Hỷ vô cùng hoan hỷ, phát tâm tham gia vào Đạo Tràng Cực Lạc Liên Hũu của Chùa Quang Minh ( Melbourne ). Mặc dù vẫn niệm Phật từ nhiều chục năm qua, nhưng cụ Diệu Hỷ vẫn chưa tu tập pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương như một pháp môn trọng yếu thật sự. Khi nhân duyên đã đến, trong hai năm sau cùng của cuộc đời, cụ đã tỏ rõ quyết tâm niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc cõi A Di Đà. Sáng niệm Phật, trưa niệm Phật, chiều niệm Phật, tối niệm Phật, niệm niệm không ngừng với lòng tín tâm vô bờ bến. Bên cạnh công phu nhất tâm niệm niệm Hồng Danh A Di Đà Phật, cụ Diệu Hỷ luôn luôn hoan hỉ công đức, phát tâm hoan hỉ bố thí, phóng sanh, hoan hỉ cúng dường Tam Bảo. Dường như phước báu của công phu niệm Phật luôn làm cho cụ hoan hỉ, an lạc và mát mẻ.
Trong những ngày tháng sau cùng, cụ Diệu Hỷ dường như đã hoàn toàn biến đổi thành "một người khác". Những kiến chấp nặng nề của tâm thức của cụ đã rơi rớt xuống như những mảnh hồ vữa rơi rớt xuống từ một bức tường cũ kỹ. Gặp ai cụ cũng đều vô cùng hoan hỉ, cụ luôn tìm mọi cơ hội để "cho bớt"  những gì thuộc về mình.  Gặp ai cụ cũng khuyến khích tu hành, niệm Phật, bố thí, làm phước. Đặc biệt đối với các con cháu, cụ luôn nhắc nhở, khuyến tấn con cháu tu hành, làm phước, làm lành, tránh xa việc ác. Cụ Diệu Hỷ tu hành thật đơn giản : Gìn giữ Tam Qui và Ngũ Giới, Thập Thiện. Hoan hỉ mọi công đức, giữ thân tâm an lạc và thanh tịnh, tinh tấn niệm Hồng Danh A Di Đà Phật.
Thật là rõ ràng và đơn giản biết bao! Hỡi ôi, sinh tử là việc lớn, tu nhất kiếp, ngộ nhất thời như bậc cổ đức đã từng nói. Với tín tâm như thế, cụ Diệu Hỷ đã nhẹ nhàng trút bỏ tất cả, ra đi trong niềm an lạc vô biên. Sáng ngày 7-8-2001, sau khi công phu sáng xong, cụ Diệu Hỷ đến phòng ăn, pha tách cà phê , uống và ăn bánh sáng.  Bất thình lình cụ ngã qu?xuống đất và la lên một tiếng thật lớn. Lúc đó người con gái thứ tư của cụ là cô Oanh, lập tức chạy đến và thấy mẹ mình ở tình trạng rất nguy ngập và chị gọi ngay xe cấp cứu đến để đưa cụ đến bệnh viện. Một giờ sau khi bị tai biến mạch máu não, cụ Diệu Hỷ vẫn còn nhận biết những người con và không ngừng niệm Phật, hòa trong tiếng niệm Hồng Danh Đức A Di Đà Phật của các con cháu. Sau khi giải phẫu đầu, cụ Diệu Hỷ không tỉnh lại nữa. Đại Đức Thích Trúc Thông Hoàng, vị Thầy có nhiều nhân duyên với cụ Diệu Hỷ đã khai thị và trì tụng cho cụ.  Đại Đức Thích Phước Tấn, Đại Đức Thích Phước Thiền, Đại Đức Thích Nguyên Tạng, Đại Đức Thích Tịnh Đạo là những vị Thầy mà cụ Diệu Hỷ vô cùng qúy kính cũng kịp thời đến thăm và trì tụng cho cụ Diệu Hỷ tại bệnh viện.
Vào lúc 9g 45 sáng ngày 10-8-2001, cụ Diệu Hỷ đã vãng sanh một cách nhẹ nhàng, an lạc trong tiếng niệm Hồng Danh A Di Đà không dứt của các con cháu. Cụ Diệu Hỷ đã được chư Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni, đạo hữu các đạo tràng, và các ban hộ niệm của nhiều Chùa ở Melbourne đến viếng và trì tụng vãng sanh từ ngày 11-8-2001 đến ngày 13-8-2001.
Sáng ngày 13-8-2001, xác thân cụ Diệu Hỷ được Đưa vào nhà thiêu Altona Crematorium để hỏa thiêu lúc 11g sáng. Do có sự cảm ứng được báo trước của người con gái thứ 11 của cụ Diệu Hỷ, nên con cháu cụ xin phép được quan sát tro cốt sau khi hỏa thiêu.
Được sự đồng ý của nhà thiêu Altona, con cháu của cụ và Đại Đức Thích Trúc Thông Hoàng đến nhà thiêu lúc 3g30 chiều cùng ngày 13-8-2001. Trong hộp tro cốt, Đại Đức Thích Trúc Thông Hoàng và con cháu cụ Diệu Hỷ, đã tìm thấy hơn trăm mảnh xá lợi đủ 5 màu sắc: đen, đỏ, vàng, xanh, trắng. Đa số các mảnh kết thành Hoa xá lợi, có hình như hoa cúc. Đến 4g cùng ngày Đại Đức Thích Phước Tấn đến, và Thầy đã tìm thấy thêm 2 viên xá lợi hình tròn như hạt tiêu màu vàng sậm, bóng sáng rất đẹp, và Đại Đức cũng tìm thấy thêm nhiều hoa xá lợi khác nữa. Sự khác biệt giữa xá lợi và di cốt là: Xá lợi kết thành viên tròn hoặc thành hoa xá lợi hình bông cúc, cứng, rắn chắc không bóp vỡ được và có màu (đen, đỏ, vàng, xanh, trắng). Di cốt thì màu trắng ngà, xốp hoặc đặc, nhưng mềm, dùng tay bóp có thể vỡ ra..
Đại Đức Thích Phước Tấn xác nhận tất cả những phần tìm thấy đều là xá lợi, có giá trị như sự chứng thực cụ Diệu Hỷ đã thực sự vãng sanh. Đại Đức khuyên con cháu nên thờ kính xá lợi không như thờ cha mẹ, mà như  bậc Thầy dẫn dắt ta trên đường tu tập.  Con cháu cụ Diệu Hỷ hơn 10 người có mặt tại chỗ đều cung kính nhận lấy lời dạy của Đại Đức Thích Phước Tấn.  Số xá lợi được đem về tôn thờ tại nhà người con gái thứ 4 của cụ Diệu Hỷ, địa chỉ: 382 Francis st. yarraville. Vic. 3013. Australia.
Ba ngày sau khi đem về, sau khi đem ra để an vị xá lợi vào hộp kiếng, số xá lợi đã tăng thêm gấp 3 lần và có màu sắc sáng láng hơn.  14 ngày sau, khi con cháu đem xá lợi ra để ngắm dưới kính phóng đại , thấy có nhiều ánh sáng trắng nhấp nháy như ánh sáng kim cương , hoặc như ánh sáng của các vì sao chiếu nhấp nhoáng trên bầu trời vào ban đêm.  Đây là một sự huyền diệu, không thể lý giải bằng phương pháp khoa học, chỉ có thể lý giải bằng  tín tâm vào sự mầu nhiệm  của Phật Pháp mà thôi.
Đại Đức Thích Phước Tấn có cung thỉnh 2 viên xá lợi tròn màu vàng sậm (do chính Đại Đức Tìm thấy) và thêm vài hoa xá lợi khác màu xanh về chùa Quang Minh. Số xá lợi còn lại, được chia cho các con cháu để thờ kính, và các Chùa, Tự viện nếu có lời yêu cầu; nhằm mục đích khuyến tu. Trong kệ kinh sách của cụ Diệu Hỷ, người con trai trưởng của cụ đã tìm thấy nhiều thủ bút của cụ. Trong đó có thủ bút của cụ Diệu Hỷ sưu tập chép lại bài thơ, hoặc sáng tác chưa rõ.
TA  NHÌN  TA
Đêm sầu gần một kiếp
Ôm bóng tối ưu phiền
Chính giữa lòng triền miên
Mang âm thầm tứ nghiệp
Nằm đu đưa ảo mộng
Đi suốt trùng sương mù
Ngồi dưới tàng cây phượng
Còn nữa đời phù du
Sáng ngày bên đầu núi
Bên đất trời mênh mông
Biết ta là hạt bụi
Trong cơn lốc vô thường
Nhìn xuống vào sâu thẳm
Dòng sông nào vơi đầy
Biển khơi nào đã cạn
Mưa nắng nào qua đây
Làm Thiền sư khoác áo
Leo lên đỉnh non cao
Khu rừng xưa mất dấu
Xuyên lá nắng nào reo
Ta bước vào tịnh cốc
Ngồi tụng Kinh Kim Cang

Chợt  nụ  cười  Di  Lặc.


Căn cứ vào những thủ bút do cụ Diệu Hỷ ghi chép và để lại, có thể thấy rất rõ rằng cụ Diệu Hỷ đã đi trên con đường Phước Huệ song tu suốt cả đời cụ. Còn quan sát hành trạng của cụ như gìn giữ Tam Quy, Ngũ giới, thọ Bát Quan Trai giới, Thọ Thập Thiện giới, hoan hỉ công đức cúng dường Tam Bảo,  Từ bi , phóng sanh, làm lành, lánh dữ… thì có thể nói cụ Diệu Hỷ đang đi trên đường Giới, Định, Huệ tiệm tu qua nhiều chục năm của cuộc đời cụ. Nhưng nếu nhìn gần những  năm tháng cuối đời của cụ Diệu Hỷ, có thể nói cụ chuyên chú vào pháp môn niệm phật, niệm niệm không dừng dứt, để cầu vãng sanh cõi A Di Đà Phật, tịnh thổ của Tây Phương Cực lạc. Như trong kinh A Di Đà đã nói: Hựu nhất nhật… nhất tâm bất loạn, nhất tâm, nhất niệm, niệm niệm Hồng Danh A Di Đà Phật cũng đủ được vãng sanh cõi A Di Đà. 
Trong lần viếng di tích Phật Giáo năm 1997 ở Ấn Độ, mặc dù tuổi đã già  sức đã yếu, chỉ với cây gậy chống đỡ, cụ Diệu Hỷ đã leo lên đỉnh núi Linh Thứu trước tất cả mọi người trong đoàn . Và ngay trên tảng đá, nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, hơn 2.600 năm  trước, đã thuyết Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, cụ Diệu Hỷ đã dùng tóc mình để cúng dường Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật và pháp bảo vô lượng. Ôi! Dũng mãnh thay Đại lực tín tâm của một người phật tử bình thường. Ôi! Kiên cố thay Đại lực tín tâm như kim cương của một hành giả trên đường vượt thoát sinh tử luân hồi. Chỉ bằng sức tín tâm, nhất tâm nhất niệm, niệm niệm không rời Hồng Danh A Di Đà Phật, mà cụ Diệu Hỷ đã chứng thực : VÃNG  SANH  CÕI  DI  ĐÀ  LÀ  HIỆN THỰC.
Xá lợi của cụ bà Diệu Hỷ
(Xá lợi của cụ bà Diệu Hỷ)
Tất  cả lời biện luận uyên bác, cao siêu; trăm nghìn vấn đáp phù phiếm chẳng qua là tro cốt còn lại. Tín tâm và hạnh nguyện, nhất tâm, nhất niệm Hồng Danh A Di Đà, dù chỉ 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày, 4 ngày, 5 ngày, 6 ngày 7 ngày mà nhất tâm bất loạn cũng chắc chắn vãng sanh về cõi Cực Lạc Tây Phương. Và tinh tủy của công năng niệm Phật ấy đã kết thành xá lợi, lưu ly, sáng ngời, lấp lánh như kim cương. Phải chăng,  cụ Diệu Hỷ chỉ muốn để lại cho con cháu lời nhắn nhủ  vô ngôn: Trải qua A  tăng kỳ kiếp, ngụp lặn trong sinh tử, luân hồi. Trải qua lửa đỏ của 9 tầng địa ngục, Chỉ bằng Tín tâm và nhất niệm Hồng Danh A Di Đà Phật, cũng đủ độ thoát hằng hà sa chúng sanh qua bên kia bờ sinh tử! Hỡi ơi, kiến thức càng lớn, kiến chấp càng sâu dày, nghiệp duyên càng nặng, tín tâm càng nhỏ, ngã ta càng to, tro cốt càng nhiều, sinh tử bao giờ mới dừng lại? Kiến chấp bỏ xuống, nghiệp mỏng, duyên dày, tín tâm vô lượng, ngã ta không còn, chỉ còn lại kim cương và lưu ly sáng ngời như hào quang tiếp dẫn của Đức A Di Đà từ cõi Tịnh Thổ Cực Lạc Tây Phương.

Viết tại Melbourne 25-8-2001
Thiện Ngộ ( Con trai thứ 5 của bà Diệu Hỷ)